Trong lễ Tro, thứ Tư đầu
mùa Chay, chủ tế nhắc lại tập tục trong Cựu ước: khi người ta tỏ lòng sám hối
tội lỗi mình, người ta thường xức tro trên đầu và mặc áo nhặm.
Hỏi: Ngày Lễ Tro có nói trong
Kinh thánh không? Xin cho biết đoạn nào trong Cựu ước hay Tân ước ? Lễ Tro có ý
nghĩa gi?
Đáp: Lễ Tro nhắc nhớ tín hữu về nguồn gốc của mình: Thiên Chúa dựng
nên con người từ bụi đất, sách Sáng thế đoạn 2 câu 7: "Thiên Chúa lấy bụi
từ đất (dust) nặn ra con người , thổi sinh khí vào lỗ mũi và con người trở nên
một sinh vật".
- Trong lễ Tro, thứ Tư đầu mùa Chay, chủ tế nhắc lại tập tục
trong Cựu ước: khi người ta tỏ lòng sám hối tội lỗi mình, người ta thường xức
tro trên đầu và mặc áo nhặm (áo dệt bằng lông thú vật, mặc vào rất ngứa ngáy
khó chịu)
Khi giáo dân xếp hàng lên chịu tro, chủ tế xức tro trên đầu
ngươòi ta, hoặc theo kiểu bên Mỹ, vẽ hình thánh giá trên trán, và nói:
"Hãy nhớ mình là tro bụi và sẽ trở về bụi tro".
- Dù nguồn gốc của con người hèn kém như tro, như bụi đất, nhưng
con người được Thiên Chúa yêu thương, cứu chuộc, và sau này sẽ được sống lại để
hưởng phúc đời đời. Hãy gắng ăn năn đền tội, lập công phúc để được hạnh phúc
muôn đời
(3 phần trình bày):
Phần chính 1
THỨ TƯ LỄ TRO
LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA THẦN HỌC PHỤNG VỤ
Ngày Thứ Tư Lễ Tro, chúng ta nghe văng vẳng lời thánh ca từ Sách
Sáng thế: Hỡi người hãy nhớ mình là tro bụi và sẽ trở về bụi tro. Lời Kinh
thánh này nhắc nhở chúng ta ý thức về thân phận con người qua biểu hiệu
"bụi tro" được dùng trong Kinh thánh và trong nghi lễ ngày Thứ Tư đầu
Mùa Chay. Trong bài viết này tôi sẽ nói qua về lịch sử và ý nghĩa thần học
phụng vụ của Ngày Thứ Tư Lễ Tro.
1. Lịch sử Thứ Tư Lễ Tro
Những Quy luật tổng quát của Năm phụng vụ nói về ngày Thứ Tư Lễ
Tro như sau: "Mùa Chay bắt đầu từ Thư Tư Lễ Tro và kết thúc ngay truớc
Thánh lễ Tiệc Ly. Ngày Thứ Tư đầu Mùa Chay có xức tro; ngày đó khắp nơi ăn
chay" (số 28 và 29). Lời chỉ dẫn này cho chúng ta biết ý nghĩa của Ngày
Thứ Tư Lễ Tro trong Năm phụng vụ, cũng như trong suốt Mùa Chay thánh. Với Thứ
Tư Lễ Tro, Giáo hội bắt đầu Mùa Chay. Ngoài ra trong cơ cấu phụng vụ của ngày
này, Giáo hội cử hành lễ nghi làm phép tro và xức tro.
Trong truyền thống phụng vụ từ thế kỷ thứ 7, Ngày Thứ Tư Lễ Tro là
một ngày quan trọng, và không một lễ nào có thề vượt lên trên. Người ta cũng
gọi ngày này là "Ðầu Mùa Chay" (Caput ieiunii), hay " Ðầu Mùa ăn
chay 40 ngày" (Caput Quadragesimalis). Việc ăn chay trong Mùa này đã có từ
thời Ðức Giáo Hoàng Gregoriô Cả (590-604).
Về nghi thức làm phép tro và xức tro, qua thời gian lễ nghi này
đã có sự biến đổi từ một nghi thức nghi thức thống hối trong định chế về tập
tục thống hối công cộng thời xưa. Lịch sử phụng vụ về việc thành hình Nghi thức
cử hành bí tích thống hối và hòa giải, cũng như định chế Giáo hội về một số
sinh hoạt đặc biệt, đã có tục lệ bỏ tro cho hối nhân công cộng đã phạm một số
tội nặng cách công khai, mà mọi nguời đều biết, như chối bỏ đức tin, giết
người, ngoại tình . . . Những người này bị loại ra khỏi cộng đoàn tín hữu. Ðể
được nhận lại trong cộng đoàn, họ phải làm việc thống hối công cộng theo định
chế Giáo hội đưa ra. Vào ngày thứ tư trước Chúa Nhật thứ nhất Mùa Chay, những
hối nhân công cộng này sẽ tụ tập lại tại nhà thờ chính tòa, và sau khi xưng thú
tội của mình, họ sẽ được Ðức Giám mục trao cho chiếc áo nhậm mang trên mình,
rồi lãnh nhận tro trên đầu và trên mình. Sau đó họ bị đưổi ra khỏi nhà thờ và
được chỉ định đi tới một tu viện để ở đó và thi hành một số việc thống hối đã
ra cho họ. Vào sáng thứ năm Tuần thánh, các hối nhân này tụ tập lại tại nhà thờ
chính tòa, được Ðức Giám mục xem xét việc thực hành thống hối của họ trong Mùa
Chay, sau đó ngài đọc lời xá giải tội lỗi của họ để giao hòa với cộng đoàn. Từ
đây họ được quyền tham dự các buổi cử hành bí tích. Tại Rôma, vào thế kỷ thứ 7,
các hối nhân công cộng tập họp tại một số nhà thờ tước hiệu (tituli) của thành
phố, cũng như tại 4 Ðại Vương cung thánh đường thánh Phêrô, thánh Phaolô ngoại
thành, thánh Gioan Lateranô và Ðức Bà Cả, để cử hành nghi lễ như vừa nói trên
đây.
Về sau định chế thống hối công cộng không còn nữa, tuy nhiên lễ
nghi bỏ tro vẫn còn giữ lại trong ngày Thứ Tư Lễ Tro. Ðầu tiên chỉ có các tín
hữu lãnh nhận tro trên mình. Về sau các Ðức Giáo hoàng và tín hữu đều lãnh tro,
để tỏ lòng thống hối. Sang thế kỷ thứ 10, thì có việc làm phép tro và một lời
nguyện kèm theo bắt chước cơ cấu thánh lễ, nghĩa là có lời nguyện giống như
Kinh nguyện thánh thể, và việc lãnh nhận tro như khi cử hành việc rước lễ.
Vào thế kỷ thứ 11, cũng tại Rôma, Ðức Giáo Hoàng tập họp các
giáo sỹ, giáo dân tại nhà thờ thánh Anastasia. Ngài làm phép tro, bỏ tro cho
mọi người, sau đó tất cả đi kiệu về nhà thờ thánh nữ Sabina ở đồi Aventino.
Trong khi đ kiệu, Ðức Giáo Hoàng và cộng đoàn hát kinh cầu các thánh. Tất cả đều
mặc áo nhậm, đi chân không, để tỏ lòng thống hối ăn năn. Khi đoàn kiệu đến nhà
thờ thánh Sabina, Ðức Giáo Hoàng đọc lời xá giải và cộng đoàn cùng hát bài
"Chúng ta hãy thay đổi đời sống, Xức tro và ăn chay hãm mình, khóc than vì
lỗi lầm đã phạm. Hãy khẩn cầu Thiên Chúa chúng ta. Vì Người rất từ bi nhân hậu
sẵng sàng tha thứ mọi tội khiên" (Immutemur, xc. Ge 2, 13). Sau đó ngài cử
hành thánh lễ. Ðó là trạm đầu tiên (statio) của Mùa Chay. Ngày nay vào Thứ Tư
Lễ Tro, Ðức Giáo Hoàng cũng đến làm phép tro và bỏ tro tại nhà thờ thánh nữ
Sabina theo truyền thống xưa. Trước đó có cuộc rước kiệu từ nhà thờ thánh
Anselmô cũng trên dồi Aventino. Tại nhà thờ thánh nữ Sabina, ngài công bố sứ
điệp Mùa Chay cho toàn thể Giáo hội (Sứ điệp Mùa Chay năm 2002 mang tựa đề: Anh
em đã lãnh nhận nhưng không, thì hãy cho đi nhưng không [Mt 10,8]).
Vào năm 1091, Công đồng Benevento (Nam Italia) đã
truyền cử hành nghi lễ bỏ tro cho tất cả các nơi trong Giáo hội. Trong khi bỏ
tro, vị linh mục đọc lời : "Ta là thân cát bụi sẽ trỏ về cát bụi" (St
3, 19). Tro này lấy từ những cành lá đã được làm phép trong ngày Chúa nhật Lễ
Lá năm trước để lại. Trước công cuộc canh tân phụng vụ của Công đồng chung
Vaticanô II, lễ nghi làm phép tro và bỏ tro được cử hành trước thánh lễ. Vào
năm 1970, khi công bố Sách Lễ Rôma được tu chính, thì lễ nghi này được cử hành
sau phần phụng vụ lời Chúa. Ngoài câu trích từ Sách Sáng thế, còn có thêm một
công thức dùng khi bỏ tro, lấy từ Phúc âm: "Hãy ăn năn sám hối và đón nhận
Tin Mừng" (Mc 1,15). Với công thức mới này được thêm vào, thì biểu hiệu
"tro" đã mang thêm một ý nghĩa mới nữa đó là việc canh tân đời sống
trong suốt Mùa Chay thánh. Sau đây là một trong hai lời nguyện làm phép tro:
"Lạy Chúa, Chúa nhân từ đối với ai khiêm tốn, và tha thứ cho kẻ biết ăn
năn. Xin nghe lời chúng con khẩn nguyện và rộng tay giáng phúc cho hết thảy
chúng con sắp nhận lấy tro này, để chúng con kiên trì giữ bốn mươi ngày chay
thánh, và nhờ đó được nên tinh tuyền, xứng đáng cử hành mầu nhiệm Vượt qua của
Ðức Kitô, Con Một Chúa, Ðấng hằng sống và hiển trị muôn đời" (còn có một
lời kinh khác trong Sách Lễ Rôma).
2. Ý nghĩa việc bỏ tro và ngày Thứ Tư Lễ Tro
Trong Cựu Ước, việc xức tro và mặc áo nhậm được dùng để thực
hành và biểu lộ lòng thống hối cá nhân hay toàn thể cộng đoàn dân Israel.
Tro chỉ thân xác chúng ta là bụi tro, sẽ phải chết (xc. St 3,18.27; Giob 34,
17; Gr 6, 26; 25, 34; Est 4,13; Is 58, 5; Dn 9,3; Giona 3,6; Giudith 4,16;
9,1).
Trong truyền thống các đan sĩ và tụ viện, tro được dùng để nói
lên mối liên hệ với sự chết và sự khiêm nhường thống hối trước mặt Chúa. Vì
thế, các tu sĩ, các đan sĩ có tục lệ tại một số nơi, muốn nằm trên đống tro với
chiếc áo nhặm để chết. Thánh Martino thành Tours bên Pháp đã nói:
"Không gì xứng hợp hơn cho một tu sĩ là việc nằm chết trên đống tro
bụi". Các vị này lấy tro đã được làm phép trong ngày Thứ Tư Lễ Tro, rồi vẽ
hình thánh giá trên đất, trên đó còn trải thêm áo nhặm và rồi các vị nằm trên
đó khi hấp hối và khi chết. Các tu sĩ cũng có thói quen trộn tro vào bánh như
của ăn. Ðó là một hình thức hãm mình nhiệm nhặt mà các tu sĩ phải giữ.
Từ đây chúng ta nhận ra, trước tiên Giáo hội đã đặt nền tảng cho
việc thống hối, đó là nhìn nhận lại tình trạng nguyên tuyền của ơn thánh đã bị
mất do tội nguyên tồ, và hậu quả là con người xa Thiên Chúa, ttốn tránh Thiên
Chúa. Con người sẽ phải chết như là một hậu quả của tội lỗi. Vì thế cần phải
"quay trở lại" một cách tận căn, như ý nghĩa diễn tả qua từ
"canh tân" trong ngôn ngữ Do thái, là quay ngược lại với 360 độ. Ðàng
khác suy tư về bụi tro, để cho thấy sự yếu hèn của mình và tính cách tùy thuộc
vào Thiên Chúa vì con người được Ngài tạo dựng. Nhưng Thiên Chúa đoái thương và
ban ơn cứu rỗi. Phụng vụ đã diễn tả nền tảng này qua các biểu hiệu và các lời
kinh của ngày Thư Tư Lễ Tro.
Cùng với một số biểu hiệu khác được Giáo hội dùng trong Mùa
Chay, như mầu áo lễ tím, không đọc Kinh Vinh Danh, không trưng bông hoa trên
bàn thờ, không dùng đàn trong thánh lễ, bụi tro cũng được dùng để cho thấy tính
cách thống hối của Mùa Chay và thân phận của con người hay chết.
Nói tóm lại, lễ nghi làm phép tro và bỏ tro trong ngày Thứ Tư Lễ
Tro gợi ra cho tín hữu về một thời điểm quan trọng đang bắt đầu liên hệ tới ơn
cứu rỗi của họ, đó là Mùa Chay. Ðồng thời, lễ nghi khởi đầu này cũng đề ra cho
tín hữu một hành trình phải đi theo trong thời gian suốt Mùa Chay.
Hành trình đó là thực hành các việc làm biểu lộ sự thống hối,
sống bác ái; đàng khác, tín hữu cũng phải đi sâu vào tâm tình thống hối, khi
suy tư về thân phận con người, về lỗi lầm của mình và nhu cầu khẩn thiết phải
trở về, phải canh tân cuộc sống. Tuy nhiên, tín hữu không làm những việc này
trong ý thức khổ
(Theo Tinh
Thần)
Phần 2: "Tro"
Ý NGHĨA “TRO”
(MJTRUONGLUAN C.Ss.R)
Hàng năm, mỗi người Công Giáo đều đến tham dự Thánh Lễ vào Thứ
Tư đầu Mùa Chay. Còn được gọi là Thứ Tư Lễ Tro.
“Tro”
có ý nghĩa gì đối với con người? Có liên quan gì đến đời sống Đức Tin người
Công Giáo chúng ta? Và tại sao lại phải xức “tro”
trên trán?
Từ ngàn xưa vào thời Cựu Ước, “tro” đã mang hai ý nghĩa nhắc nhớ con người
phải biết sống như thế nào. Thứ nhất, “tro”
tượng trưng cho “sự thống
hối ăn năn” và thứ hai, cho “đời
sống khiêm nhường.”
Trong sách Sáng Thế 18:27, chúng ta nghe Abraham tự thú nhận: “Này tôi quả đường đột thưa với Chúa
tôi – tôi chỉ là tro bụi.”
Về sau vào thế kỷ thứ 4 Công Nguyện, Giáo Hội mới bắt đầu dùng
tro trong các nghi thức phụng vụ. Trong thời điểm này, những kẻ tội lỗi và hối
nhân rắc tro trên thân mình. Họ bị trục xuất ra khỏi cộng đoàn trong một thời
gian ngắn để thống hối ăn năn vì những trọng tội họ đã phạm – như tội phản đạo,
chối đạo, sát nhân và ngoại tình.
Đến thế kỷ thứ 7, nghi thức thống hối này đã biến dạng và được
áp dụng vào ngày Thứ Tư Lễ Tro. Kẻ có tội phải mặc áo nhặm và xức tro trên
mình. Đồng thời, phải sống xa gia đình suốt cả Mùa Chay. Những người này không
được bước vào Nhà Thờ và cũng không được nói chuyện với bất cứ một ai. Họ phải
làm việc đền tội, cầu nguyện và ngủ dưới đất hoặc trên rơm và cũng không được
tắm rửa hoặc cắt tóc cạo râu. Vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh, những hối nhân này
được ban ơn xá giải và trở về với gia đình.
Truyền thống này bắt đầu phổ biến và được áp dụng cho toàn thể
Giáo Hội hoàn vũ vào thế kỷ thứ 11 – dưới triều đại của Đức Thánh Cha Urbanô đệ
II.
Ngày nay, vào mỗi Thứ Tư Lễ Tro, các linh mục dùng tro gạch dấu
thánh giá trên trán của bản thân mình và từng giáo hữu. Tro này chính là tro
của những chiếc lá vạn tuế của Lễ Lá năm trước đã được đốt đi. Tro nhắc nhở các
giáo hữu về thân phận con người. Con người được dựng nên từ bụi tro. Tro được
sức lên trán để khắc ghi vào tâm trí thực tại cát bụi của con người chúng ta.
Vì vậy, khi dùng tro ghi dấu Thánh Giá trên trán, linh mục sẽ đọc: “Ta là thân cát bụi – sẽ trở về cát bụi”
(St 3:19) hoặc “Hãy ăn năn
sám hối và đón nhận Tin Mừng” (Mc 1:15).
THẾ THÌ “MÙA
CHAY” và “LỄ TRO”
CÓ LIÊN CAN GÌ ĐẾN TÔI?
Lá vạn tuế năm trước được đốt đi thành tro là một dấu chỉ thích
đáng cho ý nghĩa của Mùa Chay. Lá vạn tuế năm trước được đốt đi cốt ý mời gọi
mỗi một tín hữu chúng ta phải nhìn lại cuộc sống của chúng ta trong năm qua. Ta
phải xét lại những thói hư tật xấu, cách cư xử và thái độ sống của mình đối với
tha nhân. Ta phải thiêu đốt tất cả những gì xấu xa tội lỗi của ta thành tro bụi
và quyết tâm tu sửa cuộc đời mình.
Đồng thời, ta cũng cương quyết theo gương Chúa Giêsu bước vào sa
mạc cát bụi để đối diện kẻ thù của mình – chính là Satan. Satan hằng luôn xúi
dục ta chiều theo tính đam mê xác thịt, ham hố quyền hành và tham lam tiền của.
Nhìn nhận mình là bụi cát, ta noi gương Chúa Giêsu sống tín thác, tự khiêm và
kính sợ Thiên Chúa.
Thiên Chúa kêu gọi chúng ta trở nên một tạo vật mới. Ngài muốn
tái tạo và ban ơn cứu độ cho chúng ta. Song Ngài chỉ có thể tái tạo và cứu độ
chúng ta khi nào ta tự hạ để nhìn nhận thân phận cát bụi của mình. Chỉ lúc đó,
như Thánh Vương Đavít nói, Thiên Chúa sẽ: “Cất nhắc tôi lên từ đống phân
tro.”
Mùa Chay trao tặng cho chúng ta cơ hội để thay đổi và hoán cải
cuộc đời. Tro là dấu chỉ nhắc nhở chúng ta thực tại Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa.
TÔI PHẢI LÀM GÌ ĐÂY?
Nếu quý anh chị em thật sự muốn thực hiện những điều sau đây,
thì chúng ta cần phải xin ơn can đảm để nói thật và sống thật với bản thân và
với Thiên Chúa. Điều kiện căn bản và tiên quyết là: Sống Thật.
MỘT VÀI ĐỀ NGHỊ:
Gia đình tề tựu với nhau trong giờ cầu nguyện. Trong buổi cầu
nguyện, ông bà, cha mẹ và mỗi một người con trong gia đình nêu lên một thái độ,
cách ăn nết ở, hoặc một cách cư xử nào đó mà mình muốn thay đổi để làm cho mối
tình gia đình chan hòa đầm thắm hơn.
Thí dụ về thái độ cần sửa đổi:
- Bất cập: “Đâu phải việc của tôi đâu mà tôi phải “xía” vào. Đổi
thành quan tâm và tích cực hơn: “Tôi có thể giúp được gì không?”
- Ôm đồm: “Không có tôi thì chẳng có ai làm được gì cả.” Đổi
thành chia sẻ, cộng tác và thoát ly – không dính bén: “Tôi cần sự giúp đỡ của
bạn.”
- Hấp tấp – Nhiều người tự bào chữa rằng làm nhanh làm lẹ tức là
nhanh nhẹ, tháo vác, sáng trí. Nhiều công việc kéo dài trì trệ vì hấp tấp. Đổi
lại thành điềm đạm, thận trọng và nhẫn nại hơn.
- Lê thê – chậm chạp cà rề. Nói cách khác, lười. Đổi lại thành
phấn khởi, tổ chức và chủ động hơn.
Thí dụ về cách ăn nết ở:
- Dọn dẹp phòng ở hằng ngày.
- Gìn giữ vệ sinh cá nhân thường xuyên: đầu tóc, quần áo, thân
thể . . .
- Tập thể dục thường xuyên để gìn giữ sức khỏe
- Bớt ăn bớt uống.
- Bỏ bớt những đam mê về phim ảnh, rượu bia, thuốc lá.
- Đọc kinh cầu nguyện thường xuyên hơn
- Đọc một đoạn Thánh Kinh mỗi ngày và suy niệm
Thí dụ về cách cư xử:
- Thay vì âu sầu, đổi thành tươi vui với người.
- Thay vì dửng dưng, đổi thanh niềm nở tiếp đón – chào hỏi người
thân, khách lạ hoặc bạn đồng nghiệp.
- Thay vì nói lại chuyện xấu của người khác – tức là phao đồn
tin xấu, thì tìm những điều tốt để bản thảo và noi theo.
- Thay vì chê trách nhau, khen ngợi và cảm ơn nhau nhiều hơn.
- Thay vì nói một lời có nhiều ngụ ý ám chỉ, thì nói lời đơn
thành yêu mến, khích lệ người nghe.
- Thay vì nói lời làm buồn lòng hoặc gây hoang mang, nghi kỵ và
phân bì cho người nghe, thì ta quyết tâm nói những điều có lợi, tức là tạo niềm
vui, bình an và tin tưởng cho người nghe.
2. Đặt ra kế hoạch giúp đỡ người nghèo. Để dành tiền lẽ, đồ hộp,
quần áo, thức ăn khô, rồi chọn một ngày trong tháng, đem đến Nhà Xứ hoặc một cơ
quan từ thiện nào đó để để trao tặng.
Nguồn: http://www.mehangcuugiup.org

